Khi sử dụng tỏi với mục đích y
học, không nên để nguyên củ mà cần nhai hoặc nghiền nát và nên
ăn sống vì tỏi nấu chín sẽ bị giảm tác dụng.
Tỏi có tên khoa học là Allium sativum, là một loại cây lưu niên
thuộc họ Liliaceae, được tìm thấy ở khu vực Trung Á từ khoảng
hơn 5.000 nghìn năm trước. Bên cạnh công dụng như một loại gia vị,
tỏi còn được biết đến là một thảo dược đa năng, với khả năng
phòng và chữa trị nhiều bệnh.
Ngay từ những năm 1500 trước công nguyên, người Ai Cập cổ đại đã
biết sử dụng tỏi để điều trị các bệnh u bướu, nhiễm khuẩn,
nhiễm ký sinh trùng đường ruột và các vết thương ngoài da.
Trong y học cổ truyền Trung hoa, tỏi đã được sử dụng từ hơn
3.000 năm trước như một phương thuốc hữu hiệu để dự phòng cảm
cúm, điều trị rắn cắn và các bệnh nhiễm khuẩn. Năm 1858, nhà
bác học Pasteur đã chứng minh được khả năng kháng khuẩn của
tỏi. Từ đó, tỏi được sử dụng rộng rãi trong thế chiến thứ 1
và 2 để ngăn ngừa sự hoại tử của các vết thương do bom đạn gây
ra.
|
|
| Ảnh minh họa: Huffingtonpost.com. |
Ngày nay, tỏi vẫn được sử dụng rộng rãi với mục đích phòng
và chữa bệnh dưới 3 dạng chủ yếu là tỏi tươi, viên tỏi khô và
tinh dầu tỏi. Trong thành phần của tỏi có rất nhiều các hoạt
chất chứa lưu huỳnh như thiosulfinate (allicin), diallyl disulfide
và allylpropyl disulfide. Những hoạt chất này được cho là có vai
trò quyết định tạo ra mùi thơm và các tác dụng dược lý của
tỏi, trong đó, quan trọng nhất là vai trò của allicin.
Điều đáng lưu ý là các hoạt chất này chỉ được hoạt hoá khi
củ tỏi được đập dập, nghiền nát hoặc nhai và sẽ bị bất hoạt ở
nhiệt độ cao. Do đó, khi sử dụng tỏi với mục đích y học, không
nên để nguyên củ mà cần nhai hoặc nghiền nát và nên ăn sống vì
tỏi nấu chín sẽ bị giảm tác dụng. Ngoài ra, do các hoạt chất
này kém bền vững trong môi trường dầu nên tác dụng y học của
các chế phẩm dầu tỏi cũng bị giảm sút đáng kể (chỉ còn 10 -
30% hoạt tính). Tỏi ngâm lâu ngày trong rượu trắng cũng được
chứng minh là không có tác dụng chữa trị bệnh.
Dưới đây là một số công dụng chính của tỏi đối với sức khoẻ con người:
Dưới đây là một số công dụng chính của tỏi đối với sức khoẻ con người:
Tác dụng đối với hệ tim mạch
Tỏi đã được khoa học chứng minh là có tác dụng hạ mỡ máu,
hạ huyết áp và giảm ngưng tập tiểu cầu ở người lớn, từ đó góp
phần làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch do xơ vữa như nhồi
máu não, nhồi máu cơ tim... Cần thận trọng khi dùng đồng thời
tỏi với các thuốc chống đông máu và thuốc chống ngưng tập tiểu
cầu như aspirin, clopidogrel, vì có thể làm tăng nguy cơ chảy
máu. Ngoài ra, cũng nên tránh dùng các chế phẩm từ tỏi khoảng một
tuần trước khi phẫu thuật để giảm nguy cơ chảy máu kéo dài
trong và sau phẫu thuật.
Tác dụng chống ung thư
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, ăn nhiều tỏi và các loại rau
củ thuộc họ allium như hành, hẹ, tỏi tây giúp giảm nguy cơ mắc
các bệnh ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung
thư tiền liệt tuyến và ung thư vòm họng.
Tác dụng kháng khuẩn
Tỏi có khả năng kháng lại nhiều chủng vi khuẩn, virus, nấm và
ký sinh trùng. Trong y học cổ truyền của nhiều dân tộc, tỏi
thường được dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ở đường
tiêu hoá, hô hấp và ngoài da.
Viên tỏi khô cũng được chứng minh có khả năng điều trị và dự
phòng một số bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em như cảm cúm, viêm đường
hô hấp, viêm tai giữa. Đắp tỏi tươi tại chỗ có tác dụng khá
tốt trong điều trị mụn cơm do virus. Gần đây, tỏi được phát hiện
có khả năng diệt Helicobacter pylori, loại xoắn khuẩn có vai trò
quan trọng gây bệnh viêm loét dạ dày tá tràng.
Sử dụng 1-2 nhánh tỏi tươi mỗi ngày ở người lớn sẽ không gây
ra tác dụng phụ nào đáng kể ngoại trừ việc tạo ra mùi khó
chịu của hơi thở và mồ hôi.
Ăn một số lượng lớn tỏi tươi, nhất là vào lúc đói có thể gây
cảm giác khó chịu, đầy chướng bụng, buồn nôn, ỉa chảy và
rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột. Đắp tỏi tươi có thể gây cảm
giác rát bỏng, viêm da và nổi bọng nước tại chỗ. Ngoài ra, việc
dùng viên tỏi khô kéo dài có thể gây giảm đường huyết trong một số
trường hợp.
Bác sĩ Nguyễn Hữu Trường
Bệnh viện Bạch Mai
Bệnh viện Bạch Mai

0 nhận xét:
Đăng nhận xét